phương thức trần thuật

A. CÁC PHƯƠNG THỨC TRẦN THUẬT: Thường xuất hiện trong các văn bản truyện kể: truyện, tiểu thuyết. 1. Trần thuật từ ngôi thứ nhất, người kể chuyện xuất hiện trực tiếp (thường xưng "tôi" trong tác phẩm) UÝ BAN NHÂN DAN TiNH KON TUM SÓ:26 /QÐ-UBND CONG HÒA xà HOI CHÜ NGHÎA VIET NAM ÐQc lâp - TV do - H?nh phúc Kon Tum, 'agày ðmateri tali temali pramuka lengkap dengan gambar. Từ sau 1986, sự đổi mới tư duy nghệ thuật, sự mở rộng phạm trù thẩm mĩ trong văn học khiến truyện ngắn không những đa dạng về đề tài, phong phú về nội dung mà còn có nhiều thể nghiệm, cách tân về thi pháp. Mỗi nhà văn đều lí giải cuộc sống từ một góc nhìn riêng, với những cách xử lí ngôn ngữ riêng. Hệ quả tất yếu là truyện ngắn Việt đương đại đã gặt hái được nhiều thành công trên nhiều phương diện, trong đó không thể không kể đến ngôn ngữ trần thuật. Trong tác phẩm tự sự, trần thuật là thành phần lời của tác giả, của người trần thuật…1. Ngôn ngữ trần thuật do vậy là nơi bộc lộ rõ ý thức sử dụng ngôn ngữ có chủ ý của nhà văn. Khảo sát ngôn ngữ trần thuật đặc biệt là những tính chất thường gặp của ngôn ngữ truyện ngắn hiện đại trong lời người trần thuật chúng tôi hi vọng sẽ góp phần nhận diện những đặc điểm cơ bản của ngôn ngữ truyện ngắn đương đại. 1. Tính chất hiện đại trong ngôn ngữ trần thuật Thu hẹp khoảng cách giữa truyện kể và những “chuyện” của hiện thực, ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn đương đại trở nên gần với ngôn ngữ đời sống hơn bao giờ hết. Ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn không còn là lời nói quyền uy, cao đạo. Bên cạnh khẩu ngữ trong truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh có thứ ngôn ngữ vỉa hè ở tác phẩm Phạm Thị Hoài. Có lời người trần thuật dân dã trong truyện ngắn Sương Nguyệt Minh đi năm lần bảy lượt, mời mẻ bát gẫy đũa…, Nguyễn Khải cười thắt ruột, ăn nói quá quân trộm cướp…, Bão Vũ nằm co tiểu sànhkhihết phim.... Có kiểu phát ngôn trần trụi, không gọt dũa của thứ ngôn ngữ “chợ búa” ở Người hùng trường làng Tạ Nguyên Thọ, Không có vua Nguyễn Huy Thiệp, Dạo đó thời chiến tranh Lê Minh Khuê… Trong một số tác phẩm, những tiếng lóng, những từ ngữ tục, những câu chửi thề… được người trần thuật sử dụng khá thường xuyên. Tuy thế, việc vận dụng thích hợp mảng ngôn từ ít có giá trị thẩm mĩ tự thân này, trong một chừng mực nhất định, vẫn có thể nâng cao hiệu quả trần thuật. Nếu trước đây thật khó hình dung cách nói không có trật tự trên dưới của những người tham gia giao tiếp, thì trong truyện ngắn đương đại, kiểu nói “xấc xược” của lớp trẻ không còn quá lạ tai. Để phê phán một mảng xã hội bộn bề, mọi chuẩn mực đạo đức bị đảo lộn, nhiều cây bút đã không ngại sử dụng thứ ngôn ngữ trần thuật “thiếu văn hóa”. Ở Làng xi măng Lê Minh Khuê, giả sử không có lời chú thích của người trần thuật, hẳn không nhiều độc giả “dịch” được bức điện tín Bà mõm, Thối rồi. Về ngay! bà ốm, mất rồi, về ngay. Kiểu thông báo có tính chất mệnh lệnh với ngôn từ ít trang trọng vẫn có thể là lời của con cái dành cho bậc sinh thành Bao giờ ổn định con sẽ “cẩu” mẹ ra khỏi cái “làng Vũ Đại” Gió đồng se sắt – Đỗ Tiến Thụy. Đoạn văn sau đây trong Đại hùng kê Hòa Vang là bằng chứng của một thứ ngôn ngữ giao tiếp đáng kinh hãi xuất hiện đậm đặc trong truyện ngắn hôm nay Phéng mẹ nó một nhát với cái lão “hâm đơ” viêm màng túi mãn tính cùng đời ấy cho xong phắt đi… Chị mới sắp bốn mươi cái lơ thơ tơ liễu buông mành, sợ gì?… phây phây lắm, ngọt bột canh Ajinô Môtô lắm… Có một sự đối nghịch rõ rệt nếu soi xét bằng con mắt thực dụng giữa lão chồng hâm đơ và người vợ còn ngọt bột canh Ajinô Môtô lắm. Lời khuyên như thuyết phục hơn nhờ ngôn ngữ phố phường thời hiện đại. Trong hai thập niên trở lại đây, sự bùng nổ thông tin đã tác động đến ngôn ngữ đời sống và để lại dấu ấn khá rõ ở ngôn ngữ trần thuật. Từ ngữ chuyên môn trở nên phổ biến các thuật ngữ y học, tên các loại bệnh mới HIV-AIDS, viêm não Nhật Bản, sarc, dịch cúm gia cầm…; các khái niệm kinh tế tiền tệ công ty cổ phần, thị trường chứng khoán, cổ phiếu…, các ngôn từ đặc trưng thời đại kĩ thuật số, công nghệ thông tin thư điện tử, chat, truyền hình cáp, nối mạng, trực tuyến…. Những từ ngữ vốn chỉ mới xuất hiện gần đây cũng ùa vào tác phẩm cave gái làm tiền, ô-sin người giúp việc, gay người đồng tính, sếp cấp trên, víp nhân vật quan trọng… Ngôn ngữ thời đại a còng được sử dụng như những phương tiện biểu đạt mới. Xuất hiện cả dạng ngôn ngữ không dấu của người trần thuật lồng vào những đối đáp kiểu trò chuyện chat trên mạng internet Tại sao? Tình Yêu – Y Ban. Ưa chuộng tốc độ tinh thần của lối sống hiện đại, ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn sau đổi mới thường ngắn gọn, đơn nghĩa nhưng chứa nhiều thông tin. Chỉ vài dòng phát ngôn, người trần thuật vẫn có thể cung cấp và bình luận nhiều sự kiện đang diễn ra trong đời sống. Chẳng hạn, bằng ngôn ngữ cập nhật lồng vào lời kể chuyện, người trần thuật ẩn tàng trong Cuộn dây Lê Minh Khuê đã tải đến người đọc những vấn đề thời sự Mùa hè năm nay trái đất phập phồng những hiểm họa. Người Ruanđa bắn giết nhau… Người châu Âu chịu cái nóng khủng khiếp… Băng tuyết xuất hiện ở Zimbambuê… Bệnh AIDS lan tràn ở Đông Á… Ngôn ngữ hiện đại đã ùa vào truyện ngắn, chi phối các phát ngôn của người trần thuật. Nói cách khác, thông qua ngôn ngữ trần thuật, truyện ngắn đương đại đã kịp thời tái hiện sinh động bức tranh xã hội hôm nay, từ phương diện lời ăn tiếng nói của con người. 2. Dấu ấn văn hóa vùng miền trong ngôn ngữ trần thuật Chịu ảnh hưởng của ngôn ngữ đời sống, ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn sau 1986 bộc lộ khá rõ đặc trưng văn hóa vùng miền. Phương ngữ được sử dụng có chủ ý chứ không chỉ thuần túy do chất giọng “bản địa” của nhà văn. Người trần thuật không những “tải” nội dung truyện kể mà còn “chuyển” những giá trị văn hóa nằm sâu dưới lớp ngôn ngữ. Có vẻ đẹp bình dị của vùng sông nước Cửu Long qua bờ kênh, con rạch, những cù lao xanh… Nguyễn Ngọc Tư. Có chất Huế đặc trưng mà độc giả chỉ có thể cảm nhận qua những phát ngôn cụ thể của người trần thuật Trần Thùy Mai. Chất thâm thúy miền Bắc hay kiểu hồn hậu miền đều được bộc lộ rõ nét. Dấu hiệu nhận biết có thể chỉ là những ngôn từ nhân xưng được đưa vào tác phẩm. Đó là cách nói của người miền Trung khi nhân vật lớn tiếng chửi Tổ cha mồ tổ con mô thằng mô độc mồm độc miệng nói con tau chết. Bà Thỏn – Trần Thanh Hà; là lời chào rặt tiếng địa phương được người trần thuật kể lại rõ ràng Họ gặp nhau Chào eng! Chào ả! Ôi cụ! Ôi mự! Nghe rộn rã trên đường Quê hương – Cao Hạnh. Là ngôn ngữ thuần Nam Bộ khi người trần thuật sử dụng lời ăn tiếng nói dân dã, khắc họa cuộc sống xứ sở miệt vườn Sống trong hồn người khác Ngọc Linh, Sông Hậu xuôi về Nguyễn Lập Em, Mùa gió Trần Minh Thuận… Qua ngôn ngữ trần thuật, phong tục tập quán từng miền cũng được thể hiện rõ nét. Có đời sống du mục hay lênh đênh theo gánh hát của người miền trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư Biển người mênh mông, Cánh đồng bất tận. Có nếp sinh hoạt của người Hà Nội trong các khu phố cổ Phố cũ – Nguyễn Văn Thọ… Tuy vậy, thể hiện đậm đặc chất giọng địa phương và tạo thành một dòng văn học vùng miền chỉ có thể là mảng truyện ngắn Nam Bộ. Trong dòng truyện ngắn phương Nam ấy, Nguyễn Ngọc Tư được xem là một tác giả tiêu biểu với nhiều tác phẩm hay Dòng nhớ, Biển người mênh mông, Qua cầu nhớ người, Hiu hiu gió bấc… Đến với văn Ngọc Tư, độc giả có thể hình dung rất rõ về vùng đất Nam Bộ. Từ những mé đìa lục bình, đám trâm bầu, chòm quao, trái giác nấu canh chua bông súng đến cách gọi tên nhân vật anh Hai Nhớ, dì út Thu Lý, dì Tư, út Thà, Sáu Tâm… hay lời ăn tiếng nói thường ngày trời đất, đúng chóc hà, nói gì lãng xẹt vậy ta, nói chơi hoài, như vầy, chút đỉnh… đều gợi lên dáng hình thiên nhiên, con người xứ sở miền Nam. Có thể nói, với ngôn ngữ trần thuật mang đậm dấu ấn văn hóa vùng miền, truyện ngắn Việt Nam thời kì đổi mới không những nhiều dáng vẻ mà còn rất gần gũi với đời sống con người. 3. Tính chất đa thanh trong ngôn ngữ trần thuật Truyện ngắn Việt đương đại không còn mang tính chất một giọng, đơn bè, như các thời kì trước. Ngay trong bản thân các phát ngôn của người trần thuật, cùng lúc có thể có cả lời trực tiếp hay những suy tư gián tiếp của nhân vật. Khảo sát tính chất đối thoại trong ngôn ngữ trần thuật hay lời nửa trực tiếp phát ngôn đồng thời của người trần thuật và nhân vật có thể thấy rõ tính chất đa thanh của ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn thời kì này. * Tính chất đối thoại trong ngôn ngữ trần thuật Đối thoại là một dạng lời phát ngôn trực tiếp, mang tính cá thể hóa cao của nhân vật khi tham gia giao tiếp. Trong truyện ngắn, hình thức đối thoại được sử dụng rộng rãi và có vai trò quan trọng trong việc biểu đạt nội dung. Có kiểu đối thoại theo hình thức phân vai, có kiểu lời thoại được nhấn mạnh nhờ những chỉ dẫn của người trần thuật nhằm giản lược hoạt động giao tiếp… Tuy nhiên, người trần thuật vẫn có thể biến lời thoại của nhân vật thành lời của bản thân. Đây là một dạng phát ngôn đặc biệt, thể hiện tính chất nhiều giọng của ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn đương đại. Ở một số tác phẩm, lời nhân vật không được sắp theo thứ tự đối đáp mà đan xen trong lời người trần thuật, nhất là khi người trần thuật là nhân vật xưng tôi, vừa kể chuyện vừa tham gia giao tiếp. Nghĩa là giữa những lời đối thoại, có khi vẫn có những phát ngôn lạc khỏi giao tiếp – những phát ngôn mang tính độc thoại của người trần thuật. Ẩn trong một vai giao tiếp, người trần thuật không chỉ trực tiếp trao đổi với nhân vật mà còn dễ dàng kể chuyện. Chẳng hạn như cách nói sau trong Người ở làng pháo Nguyễn Khải Bà vợ hỏi, một cân đỗ là bao nhiêu nhỉ, một ông khách vừa cười vừa nói, buôn bán như chị là đoảng, ở nhà quê không biết giá đỗ tương còn biết cái gì, một ngàn sáu bà chủ ạ. Chỉ một câu kể mà có thể chứa cả một đoạn trao đổi giữa hai nhân vật tham gia giao tiếp. Người trần thuật đã lược bỏ hoạt động đối thoại bằng lời chỉ dẫn bà vợ hỏi, ông khách vừa cười vừa nói nhằm tạo những điểm nhấn thông tin, biến lời đối thoại thành lời kể. Lời tác giả, lời người trần thuật, lời nhân vật lẫn vào nhau, tạo nên những tranh cãi, đối đáp. Ở truyện ngắn Huệ lấy chồng kiểu lời người trần thuật đan xen với lời thoại nhân vật cũng được Nguyễn Ngọc Tư sử dụng nhằm làm tăng hiệu quả biểu đạt. Đây là lời kể xen lẫn trong những đối đáp giữa hai nhân vật Huệ và Điềm Huệ cười, người ta vậy, mầy còn nhắc làm chi a. Mà, sao bữa nay nghe gió lạnh quá chừng, gió te tái đưa tới một tiếng gà đang gáy, nghe từng giọt, từng tiếng buồn thỉu b. Bằng cách giữ nguyên lời nói của nhân vật trong câu kể, người trần thuật ở đoạn văn trên đã chuyển từ lời đối thoại sang lời độc thoại. Nếu a là lời kể của người trần thuật mệnh đề Huệ cười mang hàm ý đối thoại hướng tới đối tượng giao tiếp là Điềm mầy còn nhắc làm chi thì b đã nghiêng sang dạng độc thoại có hướng. Vẫn như đang nói với Điềm, song cái cảm giác buồn thỉu bởi gió lạnh, bởi tiếng gà te tái chỉ có thể là của riêng Huệ trước ngày xuất giá, khi bóng dáng người cũ chưa hẳn đã phôi phai… Rõ ràng, kiểu trần thuật “nhiều giọng” đã giúp độc giả thâm nhập sâu hơn vào thế giới nội tâm nhân vật. Sự chuyển đổi từ lời đối thoại sang lời kể đã làm lạ hóa kiểu trần thuật đơn âm, tiến tới một kiểu trần thuật đa giọng điệu. * Lời nửa trực tiếp Nếu lời gián tiếp là lời người trần thuật ngôi ba kể về đối tượng; lời trực tiếp là lời nhân vật được truyền đạt thông qua độc thoại và đối thoại; thì lời nửa trực tiếp là kiểu lời nói kết hợp đồng thời hai hình thức phát ngôn gián tiếp bởi người trần thuật và trực tiếp bởi nhân vật nói trên. Lời nửa trực tiếp là “lời của nhân vật có bề ngoài thuộc về tác giả về mặt chấm câu, ngữ pháp nhưng về nội dung và phong cách lại thuộc về nhân vật”2. Trong truyện kể, ngôn ngữ tác giả chủ yếu lại được thể hiện bởi ngôn ngữ người trần thuật, nên xét từ phương diện trần thuật học, có thể xem lời nửa trực tiếp là lời người trần thuật nhưng mang ngôn ngữ nhân vật xuất phát từ điểm nhìn nhân vật. Đây là kiểu “câu hàm ẩn nhiều chủ thể”, “câu lai ghép”, theo cách gọi của Bakhtin. Một trong những đặc điểm cơ bản của lời nửa trực tiếp là tính song điệu giọng người kể và giọng nhân vật lẫn vào nhau. Đây là kiểu lời nói có sự hòa trộn giữa ngôn ngữ người trần thuật ngôn ngữ tác giả và ngôn ngữ nhân vật. Đoạn văn sau là một ví dụ Lúc về Diệp ôm vai mẹ, Diệp bảo mớ khô cá sặc rằn này hôm nào mẹ tiễn con đi, mẹ nướng rồi xé trộn xoài sống, con thích món này lắm. Nước chảy mây trôi – Nguyễn Ngọc Tư. Thông điệp Diệp ôm vai mẹ, Diệp bảo thích món cá khô trộn xoài sống bao hàm cả hành động của nhân vật được người trần thuật truyền đạt lại. Lời kể này chứa đựng ngôn ngữ nói biểu cảm của nhân vật nên lời người trần thuật và lời nhân vật hoà vào nhau. Không đơn nghĩa như lời trực tiếp, lời nửa trực tiếp thường mở ra nhiều hướng tiếp nhận, trở thành kiểu lời nói đặc trưng cho ngôn ngữ trần thuật phức hợp, đa thanh. Từ sau 1986, truyện ngắn Việt hay sử dụng kiểu lời nửa trực tiếp để đến gần với cuộc sống đa chiều. Đây là phương thức trần thuật gắn với tư duy lí luận hiện đại, có hiệu quả trong việc khám phá dòng tâm trạng – phương diện bộc lộ rõ nhất tư duy phức hợp của con người. Lời nửa trực tiếp có thể cơi nới khuôn khổ truyện ngắn, giúp độc giả khám phá mạch ngầm văn bản, đi sâu vào tâm trạng, bản thể con người với những hồi cố, tự bạch, dòng ý thức lẫn trong giọng kể khách quan của người trần thuật. Về biển Phan Triều Hải, Bụt mệt Hòa Vang, Qua sông hoa Phạm Trung Khâu… là một số tác phẩm sử dụng đắc địa lời nửa trực tiếp. Đây là một đoạn văn được phát ngôn bởi người trần thuật, nhưng lại khoác lớp ngôn ngữ của nhân vật trong truyện ngắn Phan Triều Hải “Bà lẩm bẩm, “mười ba sao rét thế nhỉ”, rồi bà chợt nhớ phải có một cái gì đó để quên rét. Ừ. Quên rét cũng như quên chồng. Phải có một cái gì đó để vùi đầu vào, để tất cả lẫn lộn lên, để không gì còn định hình được nữa. Lúc ấy là quên”3 Những lá thư mùa đông. Ở đây, giọng người trần thuật và nhân vật đan cài vào nhau đến mức khó phân biệt rạch ròi ở những lời nửa trực tiếp với hai chủ thể phát ngôn đồng thời người trần thuật và nhân vật chủ thể hàm ẩn. Không đồng nhất với độc thoại nội tâm, song phần lớn lời nửa trực tiếp đều gắn với ngôn ngữ độc thoại và dòng tâm tư của nhân vật. Đó là trường hợp lời kể của người trần thuật xen lẫn trong chuỗi độc thoại của nhân vật ở Kịch bản Trần Thanh Hà, Chuyến đi săn cuối cùng Sương Nguyệt Minh, Hạnh Nguyễn Thị Minh Dậu, Con thú Dương Quốc Hải… Dòng tâm trạng nhân vật đan xen trong lời người trần thuật cũng là một biến thái khác của lời nửa trực tiếp. Nó là ý nghĩ mang ngôn ngữ bên trong của nhân vật song tồn tại như những diễn từ của người trần thuật nhân danh nhân vật. Trong Có một thời yêu Vũ Thị Hồng, sau những dẫn dắt của người trần thuật là dòng hồi ức tuôn trào của nhân vật Quá khứ như một cuốn phim quay chậm, dửng dưng, tàn nhẫn diễn ra trong óc người đàn ông a. Tất cả không sót một chút gì b. Bắt đầu từ cái buổi đi lấy gạo đáng nguyền rủa ấy chăng? c. Không, phải bắt đầu từ trận tập kích vào Gò Chùa trước đó khi cả tiểu đội ta bị xóa sổ d… Ta bắt đầu nuôi ý định chạy trốn e… Lời nửa trực tiếp ở câu b, c đã dẫn dắt độc giả từ việc nghe kể a đến việc thâm nhập vào chuỗi độc thoại của nhân vật d,e. Lời người trần thuật ngôi ba khi vừa trực tiếp kể chuyện, vừa để câu chuyện được tự bật lên thông qua dòng ý thức của nhân vật, là dạng ngôn ngữ đặc trưng của lời nửa trực tiếp. Sử dụng đặc biệt thành công lời nửa trực tiếp không thể không nhắc đến cây bút trẻ Nguyễn Ngọc Tư. Từ điểm nhìn nhân vật, mượn ngôn ngữ, giọng điệu nhân vật, người trần thuật trong nhiều tác phẩm của nhà văn nữ này đã duyên dáng kể chuyện với con mắt tinh tường của người trong cuộc. Đó là ngôn ngữ trong trẻo nhưng nhiều suy tư của Diệp ở những độc thoại nội tâm được “thốt lên” bởi người trần thuật Đâu nè, đâu phải muốn là làm, cũng phải suy nghĩ đắn đo dữ lắm. Coi lại, làm gì có chuyện con người được sống hồn nhiên như nước chảy mây trôi? Phải chọn lựa và trả giá chớ… Nước chảy mây trôi. Đó là lời nói đầy yêu thương mà người trần thuật chỉ có thể có được từ ngôn ngữ độc thoại của trái tim người mẹ Có nên nói hay không lời xưa rày má thường dạy thằng con trai lớn, rằng sống trên đời, thấy phải thì làm, mà làm cũng đừng nghĩ sẽ được đáp đền xứng đáng, vì có những thứ quý giá lắm, chẳng gì bù đắp được đâu” Qua cầu nhớ người… Ngôn ngữ trần thuật trở nên giàu sức gợi nhờ những lời nửa trực tiếp. Những câu chuyện đời người trong tác phẩm Nguyễn Ngọc Tư càng sâu sắc, lan tỏa mãi trong lòng người. Tính chất đa thanh trong ngôn ngữ trần thuật hôm nay xuất phát từ việc tổ chức đồng thời những tiếng nói khác nhau. Sự xen lẫn của lời thoại nhân vật vào lời kể và đặc biệt là hình thức lời nửa trực tiếp đã góp phần làm mới nghệ thuật kể chuyện, cho thấy ý thức sử dụng ngôn ngữ có chủ ý của các cây bút truyện ngắn đương đại. Xem thêm Một cách tiếp cận truyện ngắn Việt Nam đương đại Trong những nỗ lực cách tân, việc đổi mới ngôn ngữ trần thuật là một thành công không thể phủ nhận của truyện ngắn Việt Nam từ sau 1986. Với cách vận dụng linh hoạt ngôn ngữ đời sống, ngôn ngữ vùng miền; và nhất là với cách tổ chức đồng thời nhiều tiếng nói khác nhau, người trần thuật có vai trò quan trọng trong việc cấu trúc tác phẩm, dẫn dắt mạch truyện. Khảo sát các phát ngôn trong văn bản truyện kể, độc giả có thể phần nào hình dung dược diện mạo của người trần thuật. Hơn thế, thông qua ngôn ngữ trần thuật người đọc còn có thể nhận diện những đặc điểm cơ bản của ngôn ngữ truyện ngắn hôm nay. Thái Phan Vàng Anh 1 Lại Nguyên Ân 1999, 150 thuật ngữ văn học, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội, tr 338. 2 Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi 1999, Từ điển thuật ngữ văn học, NXB ĐHQG, Hà Nội. 3 Người viết nhấn mạnh. Ngày đăng 11/04/2013, 1030 Đề tài về Cảm hứng chủ đạo và nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Kim Lân BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH Nguyễn Quốc Thanh CẢM HỨNG CHỦ ĐẠO VÀ NGHỆ THUẬT TRẦN THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN KIM LÂN Chuyên ngành LÝ LUẬN VĂN HỌC Mã số 60 22 32 LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PHÙNG QUÝ NHÂM Thành phố Hồ Chí Minh - năm 2006 Mục Lục Trang MỞ ĐẦU 1 1. Lý do chọn đề tài . 1 2. Giới hạn của đề tài . 2 3. Lịch sử vấn đề . 4 4. Phương pháp nghiên cứu .15 5. Những đóng góp của luận văn .16 6. Kết cấu của luận văn 16 Chương 1. Cảm hứng chủ đạo trong truyện ngắn của Kim Lân .17 Về khái niệm cảm hứng .17 Cảm hứng chủ đạo trong truyện ngắn của Kim Lân 20 Động lực thúc đẩy sáng tác và ngọn nguồn, đối tượng tạo nên cảm hứng trong truyện ngắn của Kim Lân 20 Về cảm hứng phê phán trong truyện ngắn của Kim Lân 21 Cảm hứng yêu thương và trân trọng con người 28 Cảm hứng về những sinh hoạt văn hoá ở vùng thôn quê . 45 Chương 2. Phương thức trần thuật trong truyện ngắn của Kim Lân 62 Các vấn đề về phương thức trần thuật trong loại hình tự sự 62 Phương thức trần thuật khách quan trong truyện ngắn của Kim Lân 64 Kiểu người trần thuậ t lạnh lùng 65 Kiểu trần thuật hoà mình với nhân vật . 72 Phương thức trần thuật khách quan và những truyện ngắn mang dấu ấn tự truyện của Kim Lân . 74 Phương thức trần thuật chủ quan trong truyện ngắn của Kim Lân 79 Kiểu người trần thuật xưng tôi đóng vai trò người dẫn truyện 80 Kiểu người trần thu ật xưng tôi vừa là người dẫn truyện vừa là một nhân vật . 85 Chương 3. Cấu trúc trần thuật trong truyện ngắn của Kim Lân 92 Cấu trúc trần thuật trong tác phẩm tự sự . 92 Các dạng cấu trúc trần thuật trong truyện ngắn của Kim Lân . 93 Dạng cấu trúc trần thuật theo trình tự thời gian 94 Dạng cấu trúc trần thuật rẽ ngang lồng ghép nhiều tầng bậc trần thuật, ở nhiều thời đ iểm khác nhau .99 Dạng cấu trúc trần thuật theo tâm lí 105 Dạng cấu trúc trần thuật đảo lộn trình tự thời gian 111 Kết luận .116 TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC 1 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Kim Lân tên thật là Nguyễn Văn Tài, sinh ngày 1 tháng 8 năm 1921, quê ở làng Phù Lưu, xã Tân Hồng, tỉnh Bắc Ninh. Bởi rất mê tuồng nên nhân vật tuồng Kim Lân đã trở thành bút danh của ông từ những năm bốn mươi của thế kỉ trước. Kim Lân sinh ra ở mảnh đất “đời tạo văn nhân”, “nhân tài nảy nở” nhưng lại không giống như nhiều nhân tài ở mảnh đất này. Ông có một đời sống riêng thua thiệt con một ngườ i vợ thứ ba trong một gia đình bình thường, bị mọi người rẻ rúng . Do điều kiện khó khăn nên Kim Lân chỉ học hết bậc tiểu học. Sau đó làm thợ sơn guốc, sơn bình phong, thợ sơn tranh sơn mài . Kim Lân đến với văn học ban đầu là từ say mê và ham thích. Ông bắt đầu viết truyện ngắn từ năm 1941. Tác phẩm của Kim Lân đăng trên báo Tiểu thuyết thứ bảy và Trung Bắ c chủ nhật. Ông quan niệm viết văn như cách “đòi cho mình một thân phận, một nhân phẩm, một chỗ đứng trong cuộc sống bé nhỏ quẩn quanh của quê hương” [54, Kim Lân bắt đầu sự nghiệp bằng truyện ngắn Đứa con người vợ lẽ đăng trên báo Trung Bắc chủ nhật 1942. Đây là tác phẩm mang tính tự truyện. Trong những năm 1941 đến năm 1944, Kim Lân viết khá đều. Những truy ện ngắn của ông đăng trên báo Tiểu thuyết thứ bảy và Trung Bắc chủ nhật, ông tập trung phản ánh khung cảnh làng quê với cuộc sống và số phận của người nông dân. Những cuộc đời lam lũ, đói nghèo trực tiếp bước vào tác phẩm của ông và những cuộc đời ấy đã toát lên ý nghĩa hiện thực sâu sắc. Một số tác phẩm của ông như Đuổi tà, Con Mã Mái, Ông Cản Ngũ… đi vào đề tài độc đáo tái hiện những sinh hoạt phong phú ở vùng thôn quê. Qua những tác phẩm này, tác giả tập trung biểu hiện vẻ đẹp 2 tâm hồn của người dân quê - những con người cực nhọc nghèo khổ, nhưng vẫn yêu đời, trong sáng và tài hoa. Sau cách mạng tháng tám, Kim Lân tiếp tục viết về làng quê Việt Nam. Trong những tác phẩm Làng, Vợ nhặt, Bố con ông gác máy bay trên núi Côi Kê, Người chú dượng . ông tiếp tục viết về những cảnh đời Tội nghiệp, khốn khó và sự đổi đời của người nông dân nhờ cách mạng. Trong những tác phẩ m viết ở giai đoạn này, Kim Lân đi sâu vào thể hiện những thay đổi tình cảm của người nông dân trong cách mạng, kháng chiến, sự đổi đời của họ trong cải cách ruộng đất và những hoạt động cách mạng thầm lặng bình thường nhưng thật đáng quý của họ. Kim Lân là nhà văn chuyên viết truyện ngắn. Trong cả hai giai đoạn sáng tác trước và sau cách mạng tháng tám, Kim Lân viết không nhiều nhưng ở giai đ oạn nào ông cũng có tác phẩm hay. Ông là cây bút viết truyện ngắn vững vàng. “Thành công của Kim Lân chủ yếu do năng khiếu bẩm sinh và vốn sống của người vốn là con đẻ của đồng ruộng. Một lòng đi về với “đất”, với “ thuần hậu nguyên thuỷ” của cuộc sống nông thôn” [89, Truyện ngắn Kim Lân hấp dẫn và được các nhà nghiên cứu quan tâm, đề cập đến ở các mức độ khác nhau. Tuy nhiên, v ấn đề cảm hứng chủ đạo và nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn của Kim Lân cần được xem xét ở bình diện rộng và mức độ bao quát hơn để hiểu rõ tài năng và đóng góp của nhà văn. 2. Giới hạn của đề tài Đối tượng khảo sát Kim Lân là nhà văn chuyên viết truyện ngắn. Tác phẩm đã xuất bản - Làng, truyện ngắn, Tạ p chí Văn nghệ, 1948, nhà xuất bản Văn nghệ, Hà Nội, 1955. 3 - Nên vợ nên chồng, tập truyện ngắn, nhà xuất bản Văn nghệ, Hà Nội, 1955. - Ông lão hàng xóm cùng Nguyên Hồng, Nguyễn Văn Bổng, nhà xuất bản Văn nghệ, Hà Nội, 1957. - Anh chàng hiệp sĩ gỗ, nhà xuất bản Kim Đồng, Hà Nội, 1958 . - Cô gái công trường, truyện phim, nhà xuất bản Thanh niên, Hà Nội, 1960. - Vợ nhặt, tập truyện ngắn, nhà xuất bản Văn học, Hà nội, 1984. - Ông C ản Ngũ, nhà xuất bản Kim Đồng, Hà Nội, 1984. - Tuyển tập Kim Lân, nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 1996. - Kim Lâm - Tác phẩm chọn lọc, nhà xuất bản Hội nhà văn, 2004. Để phục vụ cho đề tài khoa học, đáng lẽ người viết phải khảo sát toàn bộ truyện ngắn của Kim Lân nhưng do khó khăn trong việc sưu tập tư liệu, hạn chế về thời gian nên ng ười viết chỉ tập trung khảo sát 28 truyện ngắn từ bốn nguồn tư liệu sau - Truyện Cô Vịa, báo Trung Bắc chủ nhật, số135, ngày 8-11-1942. - Truyện Vợ chồng anh đội trưởng, báo Văn nghệ, số13, 1965. - Tuyển tập Kim Lân, nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 1996. - Kim Lân - Tác phẩm chọn lọc, nhà xuất bản Hội nhà văn, Hà Nội, 2004. Bên cạnh việc kh ảo sát 28 truyện ngắn nêu trên, chúng tôi còn tiếp thu một cách chọn lọc những nhận định đánh giá của các công trình nghiên cứu đã có và những ý kiến của chính tác giả để đảm bảo tính khoa học, tính khách quan cho luận văn. Nội dung vấn đề Tìm hiểu đặc điểm truyện ngắn của một tác giả là đề tài gồm nhiều vấn đề. Nhưng do nhu cầu nghiên cứu, nguồn tư liệu, quỹ thờ i gian và những 4 hạn chế nhất định của bản thân, chúng tôi chỉ tập trung vào ba vấn đề cảm hứng chủ đạo, phương thức trần thuật và cấu trúc trần thuật trong truyện ngắn của Kim Lân . 3. Lịch sử vấn đề Phần mở đầu Như đã trình bày ở trên, các công trình nghiên cứu về truyện ngắn của Kim Lân chưa thật nhiều. Các công trình nghiên cứu này có thể chia làm bốn nhóm. Một là, các bài vi ết của nhà nghiên cứu về nội dung, nghệ thuật truyện ngắn Kim Lân. Hai là, một số bài viết về hai tác phẩm Làng, Vợ nhặt giảng dạy ở trường phổ thông. Ba là, các bài viết của Kim Lân nói về những tác phẩm của mình. Bốn là, luận văn nghiên cứu về đặc điểm truyện ngắn Kim Lân. Nhìn chung, các bài nghiên cứu đã đi vào đặc điểm truyện ngắn củ a Kim Lân ở những phương diện và những mức độ khác nhau. Trong phạm vi giới hạn của đề tài, chúng tôi sẽ hệ thống những ý kiến nổi bật, những nhận định quan trọng liên quan đến đề tài. Để hệ thống các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn, chúng tôi phân chia ra các nhóm ý kiến sau Hướng tiếp cận về nội dung Kim Lân đến với văn học bằng sự say mê ham thích và ý chí vượt lên số phận. Ông bước vào đời sống văn học còn bởi sự gặp gỡ tình cờ, gắn bó với nhà văn Nguyên Hồng. Nguyên Hồng - người bạn văn của Kim Lân đã nhận xét về những tác phẩm đầu tay của ông Từ giữa những năm 1943 - 1944 ấy, tôi được đọc mấy truyện của Kim Lân. Thoạt tiên tôi chẳng những không để ý mà còn thấy cái tên Kim Lân chương chướng thế nào ấy… Như ng rồi, chỉ bập vào mấy truyện của anh mà tôi thấy không phải loại ướt át một cách bợm bãi, trái lại nó có cái gì chân chất của đời sống và con người nghèo hèn, khổ đau… [31, 5 Ở lời nhận xét này, nhà văn Nguyên Hồng đã rất chính xác khi đánh giá về phương diện nội dung và mối quan hệ giữa tác phẩm - hiện thực trong văn chương của Kim Lân. Cũng gần với quan điểm của nhà văn Nguyên Hồng, nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân đưa ra nhận xét Đọc văn xuôi Kim Lân, ta bắt gặp cái thế giới của những người thường dân nghèo khổ vốn là hạng “hạ lưu” ở xã hội cũ Những người nông dân miền xuôi mất nhà mất đất xiêu dạt lên miền ngược, táp vào một xóm chợ bến sông, một góc phố núi hay ven một đồn điền, một xóm trai, tiếp tục vật lộn với miếng sống sơ đẳng hằng ngày. Đã có lúc nhà văn gọi những nhân vật thân thuộc ấy của ngòi bút mình là “ những đầu thừa đuôi thẹo ở khắp xó xỉnh cu ộc sống”. Cách gọi giống như là sự tự mệnh danh đầy đau xót của chính các nhân vật ấy … Mạch kể chuyện của Kim Lân dường như bắt rất nhạy vào những cảnh thương tâm cảnh bỏ nhà xiêu dạt vì công nợ, thuế khoá, cảnh ăn xin, cảnh chết đường chết chợ, cảnh bị áp bức, đoạ đầy… [2, Khẳng định lại điều này, năm 1994 trong bài viết Nghĩ về nghề văn , nhà văn Kim Lân bộc bạch Tôi đến với văn học ban đầu là từ sự say mê ham thích. Những truyện ngắn đầu tay của tôi như Đứa con người vợ lẽ, Người kép già, Cô Vịa là những truyện ngắn viết về đề tài xã hội. Đó là những câu chuyện về bản thân tôi, tâm tư và số phận của tôi cũng nh ư những người gần gũi trong làng xóm của tôi … Tôi viết như một việc được thôi thúc từ bên trong. Những cảm xúc suy tư của tôi đòi hỏi tôi phải viết. Thực chất, viết văn, trước tiên tôi viết về mình [16, … Nói đến tình yêu đất nước, nghe cảm thấy xa xôi, nhưng tình cảm đối với làng thì thật gần gũi, gắn bó. Đối với con người Việt Nam, làng xóm nuôi những con người lớn lên b ằng cả vật chất cũng như tinh thần. 6 Tình yêu của tôi đối với làng cũng như đối với cách mạng là nguồn cảm hứng sâu sắc nhất khi tôi viết Làng [16, Ở những ý kiến trên, Kim Lân khẳng định viết văn đối ông như một sự đòi hỏi cho mình một thân phận, một chỗ đứng trong xã hội. Văn ông là những câu chuyện về bản thân và những người gần gũi trong làng xóm. Nguồn cảm hứng của ông là con người làng quê, quê h ương và cách mạng. Năm 1996 trong lời giới thiệu Tuyển tập Kim Lân, nhà nghiên cứu Lữ Huy Nguyên có trích dẫn ý kiến đánh giá của các nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn, Lữ Quốc Văn và Nguyễn Đăng Mạnh Hình như những mẫu người đầu thừa đuôi thẹo ấy đã gửi một đại diện của họ vào văn học và Kim Lân đã làm việc này một cách đàng hoàng chững chạc [54, . Đó là những trang số phận của các đầu thừa đuôi thẹo, được đưa từ các xó xỉnh tối khuất lên mặt trang giấy trắng chất chứa nhân thế, nhân tình hoặc những trang tuy nghiêng về nhiều phía phong tục, trình bày cặn kẽ những thú chơi lành mạnh…, nhưng vẫn biểu hiện một phần vẻ đẹp tâm hồn của một người nông dân trước cách mạng - những người số ng vất vả, khổ nghèo nhưng vẫn yêu đời, trong sáng, thông minh, tài hoa [54, Kim Lân là một nhà tiểu thuyết phong tục hạng nhất của Việt Nam [54, - 19]. Ở ba ý kiến trên, các nhà nghiên cứu đã rất tinh tế khái quát đặc điểm về nội dung trong truyện ngắn của Kim Lân. Từ các ý kiến này, nhà nghiên cứu Lữ Huy Nguyên bổ sung và nhấn mạnh Tuy nhiên nếu có dịp đọc lại các tác phẩm của Kim Lân mà chủ yếu Là truyện ngắ n, ta sẽ thấy ông không phải chỉ là đại diện văn học của loại nhân vật đầu thừa, đuôi thẹo; ông còn là đại diện văn học sáng giá của 7 những lớp người tài hoa, bặt thiệp, phong lưu riêng thú… chọi gà, thả chim, đấu võ, đánh vật… [54, Cùng thống nhất với các quan điểm trên, nhà nghiên cứu Hoài Việt đưa ra nhận xét về hai đề tài chính trong truyện ngắn của Kim Lân Chính cái vốn sống phong phú của ông đã dẫn ông tới với hai đề tài chủ yếu trong nghiệp văn của ông - Số phận những người thấp cổ bé họng trong xã hội cũ . - Phong tục tập quán, những thú vui, trò chơi nơi thôn dã [88, Ngoài ý kiến về hai đề tài chủ yếu trong truyện ngắn của Kim Lân, nhà nghiên cứu Hoài Việt còn chỉ ra nguồn gốc thành công của Kim Lân là ở cái tâm và cái tài. Cái tâm của ông là lòng thương xót con người hay con vật, là sự chân thật, thẳng thắn, ghét sự khuất tất, ám muội. Cái “tài là con mắt nhìn, cái óc nghĩ, cây bút viết ra” [88, Năm 2003 trong phần giới thiệu về tác giả Kim Lân, nhà nhiên cứu Tr ần Hữu Tá đưa ra nhận xét Thế giới nghệ thuật của ông chỉ tập trung ở khung cảnh làng quê cùng với cuộc sống, thân phận người nông dân … Những con người của quê hương ông, thân thiết ruột thịt với ông, từ cuộc sống đói nghèo lam lũ trực tiếp bước vào tác phẩm, tự nó toát lên ý nghĩa hiện thực, mặc dù nhà văn chưa thật tự giác về điều đó . Kim Lân viết rất hay về những cái gọi là “thú đồng quê” hay “phong lưu đồng ruộng”. Đó là những thú chơi lành mạnh mang màu sắc văn hoá truyền thống của người dân quê như đánh vật, nuôi chó săn, gà chọi, thả chim truyện ngắn Kim Lân viết về phong tục Đuổi tà, Đôi chim thành, Con Mã Mái … hấp dẫn không phải chỉ vì đã cung cấp được những trang tri thức về phong tục mà chủ yếu là vì nhà văn đã làm hiển hiện lên được cuộc sống và con người làng quê Việt Nam cổ truyền, tuy [...]... giảng dạy truyện ngắn Kim Lân ở nhà trường phổ thông 6 Kết cấu của luận văn Ngoài phần dẫn nhập, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo luận văn gồm có ba chương Chương 1 Cảm hứng chủ đạo trong truyện ngắn của Kim Lân Chương 2 Các phương thức trần thuật trong truyện ngắn của Kim Lân Chương 3 Cấu trúc trần thuật trong truyện ngắn của Kim Lân 16 Chương 1 CẢM HỨNG CHỦ ĐẠO TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA KIM LÂN thành tư tưởng của tác phẩm Cảm hứng chủ đạo được xem là “trung tâm điểm”, là “vương quốc sự thật” của nghệ thuật Cảm hứng chủ đạo không chỉ toát ra từ tác phẩm mà còn xuyên suốt toàn bộ sáng tác của một tác giả Cảm hứng chủ đạo trong truyện ngắn của Kim Lân Động lực thúc đẩy sáng tác và ngọn nguồn, đối tượng tạo nên cảm hứng trong truyện ngắn của Kim Lân Nhà văn Kim Lân từng kể về đời mình... nghiên cứu về truyện ngắn của ông còn khá ít Luận văn của chúng tôi sẽ đi vào các vấn đề cảm hứng chủ đạo, phương thức trần thuật và cấu trúc trần thuật Dù các vấn đề đặt ra trong luận văn chưa là tổng quát nhưng chúng tôi hi vọng sẽ góp thêm hiểu biết về phong cách nghệ thuật của Kim Lân Từ đó, góp phần khẳng định vị trí của Kim Lân trong nền văn xuôi Việt Nam hiện đại và đóng góp một phần nhỏ vào việc... rãi trong luận văn Chúng tôi sẽ đi từ việc khảo sát phân tích từng truyện ngắn, các yếu tố nổi bật thể hiện cảm hứng và nghệ thuật trần thuật, để từ đó rút ra những nhận xét có tính tổng hợp, khái quát Đồng thời, để triển khai vấn đề một cách khoa học, biện chứng, chúng tôi sẽ đặt đối tượng nghiên cứu trong mối quan hệ với các yếu tố khác của hệ thống để làm rõ cảm hứng chủ đạo và nghệ thuật trần thuật. .. Hướng tiếp cận về nghệ thuật Như đã trình bày, các công trình nghiên cứu truyện ngắn của Kim Lân chưa nhiều Đặc điểm các công trình nghiên cứu về nghệ thuật truyện ngắn của Kim Lân cũng chỉ ở mức độ riêng lẻ, chưa tập trung và hệ thống Năm 1986 trong bài Văn xuôi Kim Lân, nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân đưa ra nhận định Có lẽ do số lượng tác phẩm không nhiều nên truyện ngắn Kim Lân cũng không thật... bàn tay nhà nghệ sĩ tài ba Kim Lân đã sắp đặt tạo ra một thứ ngôn từ mang đậm chất “văn xuôi ” Đó là một đoá hoa tạo nên sức hút ban đầu cho các độc giả Đó là phong cách giản dị mà độc đáo của Kim Lân [68, 13 Năm 2005 trong luận văn Đặc điểm truyện ngắn Kim Lân, tác giả Đặng Thị Huy Lam dành hai chương để khảo sát nghệ thuật truyện ngắn của Kim Lân Ở chương Nghệ thuật dựng truyện và xây dựng... đặt ra yêu cầu phải nghiên cứu cảm hứng chủ đạo của nhà văn trong tác phẩm để tìm hiểu đặc điểm sáng tác của nhà văn ấy “Công việc đầu tiên, nhiệm vụ đầu tiên của người phê bình là giải đoán cảm hứng chủ đạo của tác phẩm” [dẫn theo 20, Về khái niệm cảm hứng chủ đạo, Huỳnh Như Phương đưa ra quan điểm Cảm hứng chủ đạo thấm nhuần vào toàn bộ cấu trúc của tác phẩm, vào thế giới hình tượng, bao... phẩm, Hêghen xem cảm hứng chủ đạo như là “ trung tâm điểm ”, “ vương quốc sự thật” của nghệ thuật Ông cho rằng Cảm hứng chủ đạo là biểu hiện của tâm hồn người nghệ sĩ say mê thâm nhập vào bản chất của đối tượng, trở thành tương ứng với nó, gần 18 như là xuyên suốt vào nó Theo ông, cảm hứng chủ đạo cần được xem như là một sản phẩm của “một tinh thần phong phú và hoàn thiện, một cá tính mà trong đó tất... kiểu truyện trong truyện ngắn của Kim Lân Đặc biệt hơn, tác giả rất sắc sảo khi phát hiện một trong những đặc sắc của văn xuôi Kim Lân là ngôn ngữ “Ngôn ngữ nhân vật có vai trò quyết định trong việc thể hiện những tâm lí cổ truyền của người nông dân” [2, Năm 1994 trong bài Nghĩ về nghề văn , Kim Lân bộc bạch Khi sáng tác truyện ngắn, đối với tôi chi tiết vô cùng quan trọng Trong truyện ngắn. .. Lại Nguyên Ân chia truyện ngắn Kim Lân thành ba loại truyện ngắn tính cách, truyện ngắn tình huống và truyện ngắn ngụ ý Cũng trong bài viết này, nhà nghiên cứu còn đưa ra nhận xét về ngôn ngữ và chất giọng trong văn xuôi Kim Lân 10 Chất giọng thường xuyên trong truyện ngắn của Kim Lân là chất giọng thực sự văn xuôi Nó không thích hướng vào chất trữ tình, không thích nống lên thống thiết Nó thích . trong truyện ngắn của Kim Lân. Chương 3. Cấu trúc trần thuật trong truyện ngắn của Kim Lân. 17 Chương 1 CẢM HỨNG CHỦ ĐẠO TRONG TRUYỆN NGẮN. DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH Nguyễn Quốc Thanh CẢM HỨNG CHỦ ĐẠO VÀ NGHỆ THUẬT TRẦN THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN KIM - Xem thêm -Xem thêm Cảm hứng chủ đạo và nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Kim Lân, Cảm hứng chủ đạo và nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Kim Lân, , Lý do chọn đề tài, Hướng tiếp cận về nội dung, Hướng tiếp cận về nghệ thuật, Phương pháp nghiên cứu, Các vấn đề về phương thức trần thuật trong loại hình tự sự, Phương thức trần thuật khách quan trong truyện ngắn của Kim Lân, Cấu trúc trần thuật trong tác phẩm tự sự Các dạng cấu trúc trần thuật trong truyện ngắn của Kim Lân, Những đóng góp của luận văn Lại Ngun Ân 1986, “Văn xi Kim Lân”, Tạp chí Văn học số 6, Viện Lại Ngun Ân 1999, 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học quốc gia, Hà Bakhtin M. 1992, Lí luận và thi pháp tiểu thuyết bản dịch của Phạm Vĩnh Bakhtin M. 1998 Những vấn, Nguyễn Văn Dân 1998, Lí luận văn học so sánh, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nguyễn Văn Dân 1999, Nghiên cứu văn học lý luận và ứng dụng, Nxb Đặng Anh Đào 2001, Tài năng và người thưởng thức, Nxb Văn nghệ Lê Tiến Dũng 2003, Giáo trình lý luận văn học phần tác ph, Nguyên Hồng 1978, Những nhân vật ấy đã sống với tôi, Nxb Tác phẩm Nguyễn Khải 2003, Nghề văn cũng lắm công phu, Nxb Trẻ, Kim Lân 1996 Tuyển tập Kim Lân, Nxb Văn học, Hà Nội., Nguyễn Đăng Mạnh 1983, Nhà văn tư tưởng và phong cách, Nxb Văn Nguyễn Đăng Mạnh chủ biên 1986, Các nhà văn nói về văn tập 2, Nxb Nguyễn Đăng Mạnh 1993, Các tác giả văn học Việt Nam tập 2, Nxb Nguyễn Đăng Mạnh 1995, Tổng tập văn học Việt Nam tập 30A, N Tạp chí Nghiên cứu Văn học số 5/2008 Bi kịch hóa trần thuật - Một phương thức tự sự Trên cứ liệu "Cánh đồng bất tận" của Nguyễn Ngọc Tư TS. Nguyễn Thanh Tú Văn nghệ quân đội Văn xuôi Việt Nam thời gian gần đây thiên về tìm tòi đổi mới cách kể. Hứng thú của các nhà văn cũng như các nhà nghiên cứu phê bình là vấn đề cách kể như thế nào hơn là vấn đề kể cái gì. Đây cũng là điều hợp quy luật, nó đẩy cách sáng tạo, cách hiểu, cách tiếp nhận về gần hơn với đặc trưng thẩm mỹ của văn học. Một trong những cách kể được nhiều người quan tâm và đã có những vận dụng thành công nhất định là bi kịch hoá trần thuật. Ở bài viết này chúng tôi xin đi tìm hiểu cách kể này dựa trên cứ liệu hai tác phẩm được giải thưởng Hội Nhà văn Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư Giải thưởng năm 2006 và Và khi tro bụi của Đoàn Minh Phượng Giải thưởng năm 2007. Lý thuyết tự sự trước nay ghi nhận hai hình thức trần thuật cơ bản trần thuật ở ngôi thứ ba khách quan hoá và trần thuật ở ngôi thứ nhất chủ quan hoá. Cách phân biệt này mới chỉ dừng ở hình thức bề ngoài chứ chưa đi sâu vào phương thức tự sự bên trong. Điều này cũng chứng tỏ người ta chưa xem người kể đứng gần hay xa các sự kiện, nhân vật trong truyện một cách cụ thể. Chúng tôi đặt vấn đề bi kịch hoá trần thuật, cụ thể hơn là bi kịch hoá nhân vật người kể chuyện để tìm hiểu sâu hơn một bước cụ thể hoá hình thức trần thuật ở ngôi thứ nhất. Theo chúng tôi khi người kể được nhân vật hoá sẽ thoả mãn hai chức năng chức năng miêu tả hoàn cảnh, không gian, thời gian, các biến cố sự kiện và chức năng phát hiện ra thế giới bên trong của nhân vật người kể chuyện. Người kể không chỉ kể mà còn đóng vai là một nhân vật, do vậy tất yếu phải biểu hiện những quan niệm, suy nghĩ, tình cảm với ngôn ngữ, giọng điệu của một con người cụ thể. Vì thế câu chuyện không chỉ lôi cuốn sự chú ý của người đọc theo dòng các sự kiện mà còn lôi cuốn người đọc vào cả lời kể, cách kể. Nhờ thế đã tạo ra hai hiệu quả tạo ra ảo giác ở độc giả về tính khách quan của nội dung câu chuyện và thể hiện đậm nét dấu ấn chủ quan của người kể chuyện. Điều này đã được hai nhà văn Nguyễn Ngọc Tư và Đoàn Minh Phượng vận dụng khá thành công trong tác phẩm của mình. 1. Bi kịch hoá tình huống Chúng ta đều cho rằng để tạo ra được một truyện hay người viết phải sáng tạo ra được một tình huống hấp dẫn. Ở cả hai truyện Cánh đồng bất tận và Và khi tro bụi đều tạo ra một tình huống bi kịch. Ở Cánh đồng bất tận là bi kịch gia đình tan vỡ bắt đầu từ chuyện ngoại tình của người mẹ. Hận đời, hận tình người cha phóng lửa đốt nhà rồi đưa hai con lênh đênh trên chiếc thuyền nhỏ làm nghề chăn vịt, nay đây mai đó kiếm sống. Ở Và khi tro bụi là bi kịch của một người vợ có người chồng chết "bất đắc kỳ tử" vì tai nạn giao thông. Không chịu nổi nỗi đau, nỗi cô đơn, người vợ cũng đi tìm cái chết bằng cách lên một chuyến xe lửa định đến một nơi bất kỳ và sẽ tự vẫn trên cuộc hành trình bằng cách uống thuốc ngủ. Những tình huống này không mới. Chúng đều là những tình huống bi kịch mang tính giải thoát. Người cha đưa hai con lên một chiếc thuyền cũng là một cách giải thoát khỏi bi kịch gia đình bị tan vỡ, bi kịch bị phản bội. Hành động phóng lửa đốt nhà của người cha Cánh đồng bất tận, hành động rũ bỏ không thương tiếc nhà cửa, của cải, kỉ niệm của người vợ Và khi tro bụi là những hành động cự tuyệt tuyệt đối với hiện tại. Đó là những hành động tiêu cực. Xét dưới góc độ cấu trúc thể loại, những tình huống này tăng cường tính bi kịch cho câu chuyện, lôi cuốn sự chú ý dõi theo những sự kiện tiếp theo. Không ngẫu nhiên, hai tác giả đều để cho nhân vật của mình “giải thoát” bằng cách di chuyển trong một không gian vô định. "Cánh đồng" có thể là không gian xác định nhưng "cánh đồng bất tận" lại là không xác định, không giới hạn, không phương hướng. Xét dưới góc độ ý nghĩa, nó khơi gợi lòng cảm thương, xót xa cho số phận con người, nhất là đối với người phụ nữ bơ vơ "tứ cố vô thân" nơi đất khách Và khi tro bụi, với trẻ em nghèo không được sự chăm sóc đầy đủ của cha mẹ Cánh đồng bất tận. 2. Bi kịch hoá không - thời gian Chọn người kể chuyện là một cô gái mới lớn Nương thất học chưa từng trải còn ngỡ ngàng trước những sóng gió va đập của cuộc đời, hồn nhiên kể lại chuyện của gia đình mình và của chính mình đã góp phần tạo ra một đặc điểm dễ thấy ở Cánh đồng bất tận là sự hồn nhiên. Chính điều này đã nói rõ mặt mạnh, mặt yếu mà chúng tôi sẽ bàn dưới đây ở cây bút trẻ tài năng Nguyễn Ngọc Tư thể hiện trong một truyện vừa gây xôn xao văn đàn, người khen rất nhiều, người chê cũng không ít. Mô hình kết cấu của Cánh đồng bất tận ảnh hưởng rõ kết cấu trong Chí Phèo của Nam Cao, nghĩa là điểm nhìn trần thuật được di chuyển trên trục thời gian bắt đầu từ một thời điểm hiện tại rồi ngược về quá khứ sau đó lại tiếp tục ở thời tương lai. Mở đầu là cảnh một cô gái điếm bị đám đông đánh đập sau đó ngược về quá khứ nói về nguyên nhân gây tan vỡ gia đình rồi lại kể tiếp những chuyện trả hận đàn bà của người cha và cảnh người con gái Nương bị cưỡng hiếp trên cánh đồng. Câu chuyện được mở đầu nói về một hiện tượng xã hội nhức nhối tệ nạn gái điếm đã gây sự chú ý theo dõi ở người đọc đây là câu chuyện về sex, về bạo lực hay về số phận một con người đầy bi kịch nào đó… Rồi người kể cứ lái dần câu chuyện vào nội dung chính bằng cách để cho người kể kể lại chuyện của gia đình "tôi" và của chính "tôi", bằng cách kể này đã tạo ra ở truyện một hiệu quả nghệ thuật lưỡng tính. Một là, câu chuyện hồn nhiên như cuộc đời vậy, "tôi" là một cô gái quê mùa chân chất, mộc mạc cứ thật thà kể, hồn nhiên kể, vì thế mà người đọc hầu như không thấy dấu vết của sự hư cấu. Hai là, thời điểm xảy ra câu chuyện và thời điểm kể rất gần nhau nên tính thời sự của câu chuyện còn tươi nguyên, nóng hổi như là câu chuyện của ngày hôm nay vậy. Mà đã có tính thời sự, thì bao giờ cũng mang một độ nhạy cảm chính trị nhất định, nếu cứ hồn nhiên kể, thậm chí quá đà sẽ gây ra một hiệu ứng tức thời ở bạn đọc. Thí dụ chuyện dịch cúm gia cầm là chuyện nhạy cảm, nhà văn lại khoét sâu vào chuyện này thì thật không cần thiết. Có chi tiết phản hiện thực như nhà văn để cho người nuôi vịt tự vẫn vì đàn vịt của mình bị tiêu huỷ. Trên thực tế việc chính quyền ra lệnh phải ngăn chặn nạn dịch là đúng và bao giờ cũng có một sự đền bù, tất nhiên không thể thoả đáng nhưng không đến nỗi đẩy người lao động vào bước đường cùng mất hết gia sản, đến mức phải tự tử. Điều này tạo ra sự phản ứng của một bộ phận bạn đọc là có lý của họ. Một kinh nghiệm rút ra, trong sáng tạo nghệ thuật sự hồn nhiên là rất quý nhưng nhà văn không thể ngây thơ về thời cuộc, ngoài tài năng, tâm huyết nhà văn còn phải luôn trau dồi vốn chính trị, nếu không sẽ dễ bị hiểu lầm hoặc sẽ bị kẻ xấu lợi dụng để bịa đặt, tuyên truyền gây ảnh hưởng không tốt đến dư luận bạn đọc. Một đặc điểm trong cấu trúc nhân vật ở Cánh đồng bất tận là nhân vật không hề tĩnh tại mà luôn vận động. Ba cha con Nương làm nghề chăn vịt nên phải lênh đênh sông nước nay đây mai đó, chỗ nào vịt có thức ăn thì đến, rồi lại phải tiếp tục ra đi. Rõ ràng nhân vật đã bị đẩy vào một tình huống mâu thuẫn càng tiếp xúc đến mức tối đa không gian vật lý thì lại càng hạn chế đến mức tối thiểu không gian tâm thức vì ít được tiếp xúc với cộng đồng. Nhân vật dường như chỉ sống với chính mình và độc giả bị kéo vào câu chuyện đi theo bước chân nhân vật để tìm hiểu cảnh đất trời sông nước miền cực nam Nam Bộ, nhưng chủ yếu là đi theo dòng hồi tưởng miên man của nhân vật. Vì người kể chuyện và nhân vật là một nên truyện vẫn chỉ có một điểm nhìn. Cách kể truyền thống thường chỉ sử dụng một điểm nhìn dẫn đến lời văn một giọng đơn điệu. Nguyễn Ngọc Tư đã vượt qua thách thức của cách kể chuyện truyền thống, vẫn một điểm nhìn nhưng là điểm nhìn của "tôi" - ngôi thứ nhất, điểm nhìn này luôn di chuyển trên trục thời gian gấp khúc hiện tại - quá khứ - tương lai soi chiếu trên một toạ độ không gian rộng nên đã tạo ra ở lời văn mang tính chất nhiều giọng, lời văn hồn nhiên, tươi non mà nhiều cảm xúc. “Tôi” trong Và khi tro bụi hành trình trên chuyến xe lửa để tìm cái chết thì ngẫu nhiên được đọc những dòng nhật ký trong một quyển sổ ghi chép của một chàng trai trực đêm ở khách sạn. Lại là một cái chết oan uổng khác một người chồng giết vợ, đứa con 5 tuổi nhìn thấy, sợ quá mà bỏ trốn vào rừng. Người anh Michael lớn lên cùng một ý chí mãnh liệt tìm em Marcus và trả thù cho mẹ Anita. “Tôi” AnMi từ bỏ ý nghĩ tự vẫn mà tự nguyện dấn mình truy tìm cho ra người em Marcus và làm rõ nguyên nhân cái chết của người mẹ Anita. Câu chuyện bắt đầu hấp dẫn trước hết bởi cái chất “điều tra hình sự” của nó. Tiểu thuyết cứ tạm gọi trước như vậy có kết cấu truyện nọ lồng trong truyện kia với năm sáu lớp truyện mà “tôi” vừa là người kể chuyện vừa là nhân vật cứ bước hết từ lớp truyện này sang lớp truyện khác cho đến khi “vụ án” được làm sáng tỏ. “Vụ án” kết thúc không trùng với kết thúc của tiểu thuyết mà lại tạo ra một kết thúc bất ngờ khác cho chính “tôi”. Tính chất “ly kì” của câu chuyện điều tra thể hiện ở những sự bất ngờ từ các nhân vật với các mối quan hệ mới, các lời phủ định hay tự thú. Chàng trai Michael phủ nhận nội dung nhật ký của chính mình. Ông bố Kempt tự thú đã giết vợ. Đứa em Marcus bị mất trí nhớ. Cô giáo Sophie có thể coi là một nhân chứng trong vụ án có những lời ngụy biện che giấu sự thật bằng cách phân tích tâm lý trẻ em rất có sức thuyết phục. Sophie là tình nhân của người cha Kempt rồi trở thành nhân tình của người con trai Michael. Tập sách chỉ dày 185 trang không đề tên thể loại. Có lẽ ý định của tác giả là để cho bạn đọc tuỳ coi đó là truyện vừa hay tiểu thuyết. Theo tôi tập sách có một cách kể rất tiểu thuyết thể hiện ở sự pha trộn nhiều dạng tiểu thuyết tiểu thuyết đời tư, tiểu thuyết tâm lý; tiểu thuyết hình sự, kết hợp nhiều cách kể dòng ý thức, đồng hiện, đảo trật tự thời gian… và tận dụng triệt để hiểu biết của người kể về hội hoạ và âm nhạc, có những trang miêu tả rất hay đạt đến độ tinh tế và sâu sắc hai lĩnh vực nghệ thuật này. Có hai tuyến truyện song hành xuyên qua các lớp truyện lồng nhau là chuyện của “tôi” và chuyện “vụ án”. Chọn điểm nhìn trần thuật là cái “tôi” trong tình trạng cô đơn đến tuyệt vọng đang đi tìm cái chết nên không hề sợ chết mà do vậy cứ “dấn thân” điều tra các chứng cứ, truy tìm các tình tiết rối rắm phức tạp của “vụ án”. Sự “dấn thân” này còn cắt nghĩa ở sự đồng cảm giữa “tôi” và nhân vật, nhất là với nhân vật Marcus. Nếu “tôi” nhìn thấy cảnh mẹ bị chết bom thì Marcus chứng kiến cảnh mẹ bị giết. “Tôi” và Marcus cùng có một tuổi thơ trong trại mồ côi. Đây là cách chọn điểm nhìn tối ưu. Điểm nhìn này lại luôn được di động trên hai trục không gian với các cảnh sống, phong tục, con người ở Đức và quê hương sinh ra “tôi”; trên hai trục thời gian quá khứ và hiện tại của “tôi” và của các nhân vật, đã tạo ra sự đa dạng về bức tranh văn hoá đa sắc màu được thể hiện trong tác phẩm. 3. Bi kịch hoá hoàn cảnh, tâm lý, tính cách nhân vật Nếu coi Cánh đồng bất tận mang một chủ đề báo ứng như có người đã hiểu thì câu chuyện chỉ là chuyện của một vài người, của một vài đời người. Có lẽ cao hơn thế nữa, lấy chủ đề báo ứng làm điểm tựa, câu chuyện hướng về mọi người, trở thành chuyện của nhiều người, của xã hội. Theo tôi truyện đặt ra một vấn đề xã hội mang tính khẩn thiết về thân phận người phụ nữ nghèo trong xã hội hôm nay. Đó là những kiếp người mòn mỏi sống tù túng nghèo nàn, không yêu thương, không hi vọng, sống cùng tiếng thở dài buồn não ruột “Má tôi thở dài khi nghe cha ghé bến… Má tôi thở dài khi tắm… Mỗi lần ghe vải ghé trước bến, má cũng thở dài, tay bối rối nắm vào hai túi áo mỏng lẹp kép. Thở dài cả khi thằng Điền bảo cho con xin tiền mua kẹo...”. Đó là những kiếp người phải sống ở vùng khí hậu khắc nghiệt đến mức ước sao trước lúc chết “được tắm một bữa đã đời”. Đó là những phụ nữ quê mùa lam lũ bị những ông chồng vũ phu hành hạ coi như là con ở, là nô lệ tình dục. Đó là thân phận hèn hạ của những cô gái điếm. Đặc biệt là thân phận trẻ em nữ như Nương nhân vật - người kể chuyện, vì chuyện người lớn mà phải hứng chịu bao nỗi khổ đau vất vả, phải làm người lớn quá sớm. Ý nghĩa phổ quát toát ra từ những hiện tượng này lên tiếng kêu gọi toàn xã hội phải quan tâm hơn nữa, phải có những hành động thiết thực, cụ thể hơn nữa để giúp đỡ những mảnh đời vất vả khổ sở ấy. Trong khi đó chính những mảnh đời khốn khổ ấy trong sâu thẳm tâm hồn lại mang một vẻ đẹp nhân hậu thiết tha, yêu say đắm, yêu hết mình, quên mình và luôn ý thức về phẩm hạnh người phụ nữ. Như cô gái điếm kia vì kiếm sống mà phải bán thân nhưng vẫn ý thức được giá trị của con người, khi bị thiên hạ đánh cũng biết ngậm ngùi “Ăn trên mồ hôi nước mắt của người ta nên lâu lâu bị đánh cũng đáng đời…”. Nhân vật - người kể chuyện phải hứng chịu tội lỗi của người lớn, bị cưỡng hiếp nhưng vẫn không hận đời, hận tình như người lớn mà trái lại đầy niềm tin “Đứa bé đó, nhất định nó sẽ tên là Thương, là Nhớ, là Dịu, Xuyến, Hường… Đứa bé không cha nhưng chắc chắn được đến trường, sẽ tươi tỉnh và vui vẻ sống đến hết đời, vì được mẹ dạy, là trẻ con, đôi khi nên tha thứ lỗi lầm của người lớn”. Đây là những dòng kết của truyện tạo cho truyện một kết cấu mở, gieo vào người đọc một niềm hi vọng con người dù có phải sống trong bi kịch nhưng vẫn ấp ủ một khát khao tin vào lẽ đời, tin vào tình người. Truyện không hề bi quan. Chương 17, trong Và khi tro bụi là chương quan trọng nhất quyết định ý nghĩa chủ đề tiểu thuyết, giả sử cắt chương này thì đây chỉ là một câu chuyện vụ án bình thường. Chương 17 cắt hẳn với mạch chuyện vụ án và nối vào với chuyện của "tôi". "Tôi" đã tìm ra sự thật của vụ án và cực kỳ thất vọng về chàng trai Michael đã phản bội chính mình. "Tôi" lại tiếp tục đi tìm và đã rất gần với cái chết thì ý thức đưa "tôi" về quá khứ cùng một ấn tượng tuổi thơ kinh hoàng khắc sâu trong đáy tim giờ đây sống lại "Tôi" một đứa trẻ bảy tuổi đang ôm xác mẹ thì bỗng nghe tiếng gọi từ đâu đó, tiếng gọi của đứa em gái ba tuổi kêu chị chạy đi. Thế là người chị ấy vùng chạy đi để lại xác mẹ và đứa em ấy đến nay đã 25 năm. Một chủ đề chống chiến tranh, tố cáo chiến tranh toát lên day dứt người đọc. Tại sao hình ảnh này cho đến khi "tôi" "một nửa bước vào cái chết" mới hiện ra? Điều này không khó cắt nghĩa. Một là câu chuyện của "vụ án", nhất là các tình tiết về Marcus một đứa trẻ năm tuổi khi thấy mẹ bị giết sợ quá mà chạy vào rừng trong cái rét dưới âm nhiều độ dẫn đến mất trí nhớ đã ám ảnh tới "tôi" sâu sắc. Như vậy, tuy là hai câu chuyện nhưng lại có mối liên hệ với nhau rất chặt như mạch chìm của tiểu thuyết. Mạch chìm ấy là tình thương, là sự đồng cảm của hai bi kịch, hai số phận dù trong những tình cảnh khác nhau. Hai là, khi gần cái chết người ta thường nghĩ về nơi sinh ra, dĩ nhiên là suy nghĩ ấy thường neo lại nơi những ấn tượng không bao giờ quên, nhất là ấn tượng tuổi thơ. "Lá rụng về cội". Một chủ đề chính của tác phẩm rộng hơn nhiều chủ đề tố cáo chiến tranh, chủ đề chạy trốn sự cô đơn hay bi kịch về sự phản bội chính mình…, đó là chủ đề Quê hương cứu vớt con người. "Tôi" quyết định không chết nữa mà phải sống để quay trở về quê hương tìm lại đứa em ba tuổi ngày trước. Cái kết này ứng với câu thơ của Henry Vaughan được tác giả lấy làm đề từ, nguyên văn tiếng Anh là And when this dust falls to the urn/ In that state I came, return. Có nghĩa là Và khi tro bụi rơi về/ Trong lúc đó tôi sẽ quay trở lại, được tác giả dịch thơ Và khi tro bụi rơi về/ Trong thinh lặng đó, cận kề quê hương. Đây cũng chính là tâm trạng của hàng triệu người Việt xa xứ vì chiến tranh đang mong ngóng từng ngày trở về Đất Mẹ. Tiểu thuyết đã góp một tiếng nói làm xích lại gần hơn những đứa con xa quê xa đất nước. Như vậy, cách kể bi kịch hoá trần thuật đã góp phần làm nên thành công của Cánh đồng bất tận và Và khi tro bụi. Một cách kể mang đậm dấu ấn của "tôi", nhân vật - người kể chuyện. Ứng với cái "tôi" này, lời văn trong Cánh đồng bất tận đầy khẩu ngữ, đậm đà phong vị dân gian Nam bộ chân chất, hồn nhiên. Còn lời văn trong Và khi tro bụi lại hiện đại với lối văn phân tích sắc sảo, không kể lại sự việc mà là phân tích sự việc, không miêu tả trạng thái tâm lý mà là phân tích tâm lý. Phép liên tưởng và trùng điệp được sử dụng rất hiệu quả. Các câu văn cứ nối vào nhau, móc vào nhau để biểu hiện các liên tưởng, các hồi ức của nhân vật cũng là của người kể xưng "tôi". Giả sử đặt hai câu chuyện này sang một ngôi kể khác, cách kể khác, hiển nhiên truyện sẽ có một điểm nhìn khác, các sự kiện sẽ được phản ánh, phân tích dưới một hệ quy chiếu khác, do vậy tác phẩm sẽ có một hình thức khác, một nội dung khác. Trở về trang chủ Nguyễn Ngọc Tư Đang tải.... xem toàn văn Thông tin tài liệu Ngày đăng 23/03/2015, 0937 . DIẺN nghĩa và HOÀNG LÊ NHẤT THỐNG CHÍ 1. Nội dung tư tưởng của Tam quốc diễn nghĩa và Hoàng Lê nhất thống chí 2. Ảnh hưởng của Tam quốc diễn nghĩa đối với Hoàng Lê nhất thống chí trên phương. tưởng của Tam quốc diễn nghĩa và Hoàng Lê nhất thống chí Chương 2 So sánh kết cấu Tam quốc diễn nghĩa và Hoàng Lê nhất thống chí Chương 3 So sánh nhân vật trong Tam quốc diễn nghĩa và Hoàng Lê. Lê nhất thống chí 1 / j0 u y ễ n T k ị x k u ầ n Ảnh hưởng của Tam quốc diễn nghĩa đôi với Hoàng Lê nhất thống chí Chương 1 NỘI DUNG TƯ TƯỞNG CỦA TAM QUỐC DIEN n g h ĩa VÀ HOÀNG LÊ NHẤT THốNG - Xem thêm -Xem thêm Ảnh hưởng của Tam quốc diễn nghĩa đối với Hoàng Lê nhất thống chí, Ảnh hưởng của Tam quốc diễn nghĩa đối với Hoàng Lê nhất thống chí, , Chương 1 NỘI DUNG TƯ TƯỞNG CỦA TAM QUỐC DIỄN NGHĨA VÀ HOÀNG LÊ NHẤT THỐNG CHÍ, 1 Nội dung tư tưởng của Tam quốc diễn nghĩa, 2 Những ảnh hưởng của Tam quốc diễn nghĩa đối với Hoàng Lê nhất thông chí trên phương diện nội dung tư tưởng, 1 SỰ HÌNH THÀNH THỂ LOẠI VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI KẾT CẤU CHƯƠNG HỒI, 2 SO SÁNH KẾT CẤU TAM QUỐC DIỄN NGHĨA VÀ HOÀNG LÊ NHẤT THỐNG CHÍ, 2 Kết cấu đa tuyến, 3 Tính thống nhất trong kết cấu, 4 Phương thức trần thuật, Chương 3 SO SÁNH NHÂN VẬT TRONG TAM QUỐC DIỄN NGHĨA VÀ HOÀNG LÊ NHẤT THỐNG CHÍ, 2 Phân loại nhân vật trong Tam quốc diễn nghĩa và Hoàng Lê nhất thông chí, 1 Ngoại hình nhân vật, 2 Tính cách nhân vật, THƯ MỤC SÁCH THAM KHẢO

phương thức trần thuật